Chi tiết tin tức

Bà Thân
Cập nhật lúc: 10:25 - 17/09/2010 Lượt xem: 1424

      Bà Thân(1) vốn họ Bà tên Thân, gốc dân tộc Chăm. Theo lịch sử dân tộc Chăm thì họ Bà là một trong thất tộc (tức 7 tộc) lớn, gồm các tộc: "Ông - Bà - Bi (Bí) - Ma - La - Trà - Chế". Trong 7 tộc lớn đó, có 4 tộc từng làm vua của vương quốc Chiêm Thành, đó là: Bi, cụ thể như vua Bi Cai; Bà, cụ thể như vua Bà Tranh (vua cuối cùng của Chiêm Thành); Trà, cụ thể như vua Trà Toàn (vua Chiêm bị quân Đại Việt bắt đưa về Thăng Long năm 1471); Chế, cụ thể như vua Chế Mân (chồng của Huyền Trân công chúa).


      Trong cuộc Nam chinh mở cõi đại thắng của Minh quân Lê Thánh Tông, mùa Xuân năm 1471 niên hiệu Hồng Đức nhị niên, tháng 6-1471, vua Lê lấy vùng đất từ Nam Hải Vân đến tận Thạch Bi Sơn (Phú Yên) lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam. Những người gốc Chăm sớm qui thuận triều đình Đại Việt, như Ba Thái tức Bà Thái, vua Lê cho làm Đồng Tri châu Thái Chiêm (thuộc địa phận Quảng Nam và Đà Nẵng ngày nay). Đa Thuỷ làm Thiêm Tri châu. Vua Lê còn dụ bảo với các quan ấy rằng: "Hai châu Thái Chiêm và Cổ Luỹ (tức Quảng Ngãi), trước là đất của ta, đời gần đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách sai bọn các ngươi trấn giữ. Có kẻ nào không chịu theo, cho giết trước rồi tâu sau" (đúng nguyên văn tại Đại Việt sử ký Toàn thư đã ghi chép).


      Riêng đối với Bà Thân, nhà vua trao cho thủ giữ vùng đất phía Đông sông Hàn, gồm 4 xứ là Bà Thân thượng xứ, Bà Thân trung xứ, Bà Thân hạ xứ và Bà Thân hậu xứ. Bốn xứ đất này thảy đều nằm dọc theo sông, nên tục dân gian thời bấy giờ thường quen gọi là Hà Thân, truyền tụng mãi cho tới ngày nay. Bởi vậy châu bộ, địa bộ của làng An Hải, văn bia cổ làng An Hải cũng như trát lập chợ An Hải của Thống chế Thoại Ngọc Hầu cũng đều chép là Bà Thân hay Hà Thân.


      Đối với Bà Thân, chuyện kể rằng: Bà Thân ngoài việc chăm lo an ninh trật tự va đời sống của nhân dân địa phương do Bà Thân quản lý. Ngày ngày Bà Thân còn cơm nhà trầu đảy, thắt lưng buộc bụng làm theo kiểu "ăn cơm nhà, vác tù và đi làm hàng tổng", nghĩa là Bà Thân luôn mang bên mình cái túi đảy, đựng đầy trầu cau, món ăn rất ưa thích của dân tộc Chăm, vai vắt khăn hay quấn khăn trên đầu, lặn lội đi khắp vùng đất cồn hoang trơ trụi nóng bỏng. Đi tới đâu, tuỳ theo địa thế, Bà Thân trồng cây tràm hay cây thông (tức cây dương liễu) là những loại cây chịu khô hạn và nắng gió. Công sức của Bà Thân làm với mục đích là trồng cây gây rừng, phủ kín đất hoang nhàn bạch sa, không để đất này biến thành sa mạc, hoang mạc. ý thức trách nhiệm và việc làm của Bà Thân cách nay trên 530 năm mà vẫn còn quá mới mẻ như ngày nào. Chẳng bao lâu sau, cả vùng đất hoang đều được phủ màu xanh của những rừng tràm và rừng thông. Tràm và thông là hai loại cây đem lại nguồn lợi kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân vùng này. Vỏ cây tràm và vỏ cây thông ngâm với nước, sẽ ra màu đỏ sẩm, làm thuốc để nhuộm áo quần cùng ngư lưới cụ đánh bắt cá có màu chàm, nếu nhuộm nhiều lần sẽ cho màu đen. Màu chàm và màu đen là những màu rất thông dụng đối với nhân dân lao động. Vỏ tràm và vỏ thông không chỉ cung cấp trong vùng mà còn đem bán các nơi khác. Thân cây tràm và thân cây thông thì làm củi đun rất đượm lửa. Xem thế, công sức của Bà Thân đã bỏ ra để lo cho đời sống nhân dân trong vùng thật không nhỏ và những công ích cùng nguồn lợi của cây tràm, cây thông đã đem lại thiết thực kinh tế cho nhân dân quả thật đáng khen cho ý thức trách nhiệm của Bà Thân. Bà Thân từng bảo rằng, đất nào có rừng tràm, rừng thông là đất của ta. Những rừng tràm và rừng thông do Bà Thân ươm trồng vẫn còn tồn tại dấu vết cho đến trước Cách mạng tháng 8 - 1945. Tuyến đường Ngô Quyền ngày nay, xưa là con đường mòn gọi là hương lộ, chạy ngang qua những cánh rừng thông, nên thời bấy giờ mang tên là đường cây thông.


      Theo châu bộ của làng An Hải chép chính cụ Bộ Nhã (tức Trần Văn Nhã, thân phụ của bà Trần Thị Chợ và cụ Thủ Bút (tức Đỗ Trọng Bút), gốc làng An Hải) tự từ kể lại chuyện các hương hào của làng An Hải ngày xưa thân lâm ra tận triều đình Huế để xin sắc phong cho tiền hiền Bà Thân, nhưng khi dự kiến với Lang trung Bộ Lại Hà Đức Ý, người quê làng Châu Phong, huyện Diên Phước, quan phụ trách thảo sắc phong trình vua, thì ông Hà Đức Ý bảo rằng Bà là ai ? Nếu là đàn bà thí phải có họ, còn nếu Bà là họ tộc của người Chiêm Thành (Chămpa) thì triều đình không phong sắc. Triều đình chỉ phong sắc cho người Việt thôi. Nếu các cụ đồng ý để Bà Thân thành Hà Thị Thân thì dây sẽ thảo tờ sắc để vua ban. Các cụ không thuận đều bỏ ra về vì không đồng tình theo ý kiên của ông Hà Đức Ý. Đến năm 1955, hậu duệ của ông Hà Đức Ý là Hà Như Chi làm Bộ trưởng Công Dân Vụ chính quyền Ngô Đình Diệm, nhân một chuyến ra thăm Đà Nẵng, ghé đến làng An Hải, bèn đặt tên cho tuyến đường dẫn vào đền thờ tiền hiền làng là đường Hà Thị Thân. Nhân dân dịa phương không đồng tình nên đã có 3 lần đập phá vỡ tấm biển mang tên Hà Thị Thân tài đầu làng. Bởi thế, hai tác phẩm đường phố Đà Nẵng xuất bản gần đây không có tên đường Hà Thị Thân. Vả lại, họ Hà hiện nay tại làng An Hải, gia phả chỉ vỏn vẹn có 5 thế hệ, chứ không phải có trên 20 thế hệ như lục tộc Lê, Trần, Nguyễn, Đỗ, Ngô, Huỳnh, từng nối tiếp luân phiên làm chủ bái làng An Hải.


      Lăng Bà Thân, Được xây vào đầu năm 1785 thời vua Lê Hiển Tông, bà là 1 lưu dân xứ Bắc vào đây lập làng từ thời vua Lê Thánh Tông lập đạo Thừa Tuyên Quảng Nam (1471), là người có công đầu tiên trong việc khai phá vùng đất xứ Hà Thân và  lập ra làng An Hải. Diện tích khuôn viên 16,60m x 11,70m, diện tích lăng 7m x 11,7m.


     - Ngày 12/6 âm lịch ngày giỗ
     - Ngày 25/1 âm lịch Lễ cầu an cho dân.
 

      Bên trong hậu tẩm đặt 3 bàn thờ (1 chính, 2 phụ) tiền đỉnh 2 bàn thờ nhỏ 2 bên, bên trên đặt 1 bức hoành phi.

 

(5) Viết theo góp ý của ông Lê Duy Anh - Hội viên Hội Sử học Việt Nam.

 

         

Tra cứu hồ sơ

Tra cứu hồ sơ

hình ảnh

video

LIÊN KẾT WEBSITE

BQLKCN.png
GDDT.png
GTVT.png
KCNC.png
KHCN.png
SNV.png
STC.png
STP.png
SXD.png
TNMT.png