Chi tiết tin tức

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN KHÓA III TẠI ĐẠI HỘI LẦN THỨ IV ĐẢNG BỘ QUẬN SƠN TRÀ
Cập nhật lúc: 13:57 - 18/12/2011 Lượt xem: 987

Đại hội Đảng bộ quận Sơn Trà lần thứ IV diễn ra trong bối cảnh đất nước ta tiếp tục ổn định và phát triển sau 25 năm đổi mới. Đại hội lần này có nhiệm vụ kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ III, nhiệm kỳ 2005-2010; quyết định phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp xây dựng, phát triển quận Sơn Trà giai đoạn 2010-2015, tạo nền tảng quan trọng để Sơn Trà phấn đấu trở thành một đô thị lớn ở phía đông thành phố Đà Nẵng trong tương lai; thảo luận, đóng góp ý kiến vào các Văn kiện Đại hội Đảng cấp trên; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ quận và bầu đoàn đại biểu dự Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố.

 

Phần thứ nhất


    KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN
   NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI III (2005 – 2010)

 

Năm năm qua, thực hiện định hướng phát triển quận Sơn Trà theo tinh thần Kết luận số 03-KL/TU, ngày 10/7/2006 của Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng “về tình hình và phương hướng xây dựng, phát triển quận Sơn Trà trong những năm đến”; dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền, sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân, Sơn Trà đã bước đầu đánh thức tiềm năng và lợi thế so sánh để đưa quận phát triển tương đối toàn diện.


Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra; vấn đề giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân trong điều kiện hạ tầng kinh tế kĩ thuật chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực và trình độ quản lý còn hạn chế đã tạo nên nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III Đảng bộ quận.


Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân quận Sơn Trà đã nỗ lực, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội III đề ra và đạt được những kết quả quan trọng nhưng cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm.

 

I- THÀNH TỰU


1.
Tập trung phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý đô thị


Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân 5 năm 2006 - 2010 là 8,5%; trong đó: Công nghiệp - xây dựng tăng 4,2%, Thương mại - dịch vụ tăng 14,9%; Thuỷ sản - nông - lâm tăng 5,4%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó tỉ trọng công nghiệp chiếm 47,6%, dịch vụ chiếm 44,5%, nông nghiệp chiếm 7,9%. GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 25.950.000đ (tương đương 1.573 USD), gấp 1,7 lần so với năm 2006 (phụ lục 1 đến phụ lục 5).


Sản xuất công nghiệp địa phương đạt tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương tăng bình quân 57,4%/năm, tăng 48,9% so với Nghị quyết. Năm 2008, Công ty Cổ phần xuất khẩu thuỷ sản Thuận Phước và Công ty Kinh doanh chế biến hàng xuất nhập khẩu Đà Nẵng chuyển về địa bàn quận, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp.


Ngành dịch vụ chuyển biến nhanh theo hướng tích cực. Khu du lịch sinh thái bán đảo Sơn Trà, hệ thống bãi tắm, khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng ven biển Mỹ Khê và cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế hàng năm… thu hút lượng khách du lịch đến Sơn Trà ngày càng lớn. Du lịch phát triển đa dạng, dịch vụ hậu cần nghề cá được cải thiện đáng kể khi Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang đi vào hoạt động, góp phần đưa dịch vụ trở thành ngành kinh tế quan trọng của quận. Hạ tầng thương mại phát triển hợp lí gắn với quy hoạch các khu dân cư. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 24,8%/năm, vượt 13,3% so với Nghị quyết. Giá trị sản xuất dịch vụ tăng bình quân 28,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 2%/năm.


Sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định. Thuỷ sản được chú trọng công tác đánh bắt và chế biến. Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng bình quân 5,6%/năm, gần đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra (6%). công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm đặc biệt , phục vụ tốt phát triển du lịch và quốc phòng an ninh.


Kinh tế biển là một trong những thế mạnh của quận. Nghị quyết  02-NQ/QU của Quận uỷ “Về phát triển kinh tế thuỷ sản giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo” được triển khai thực hiện đạt kết quả tốt. Năng lực khai thác thuỷ sản có chiều hướng nâng lên bằng cách thay đổi cơ cấu tàu thuyền. Số loại tàu công suất lớn từ 90CV tăng từ 53 chiếc năm 2006 lên 66 chiếc năm 2009 - không kể 19 tàu đánh bắt xa bờ bị thu hồi; cơ cấu nghề chuyển đổi trong khai thác tuyến lộng, tuyến khơi để nâng cao hiệu quả kinh tế; chuyển khai thác thuỷ sản bị cấm sang khai thác thuỷ sản không bị cấm, bảo vệ môi trường biển và nguồn lợi thuỷ sản ven bờ (trong năm 2007, 2008 hỗ trợ 98 hộ với tổng kinh phí 489.675.000 đ).


Tổng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2006-2010 là 6.407.000 triệu đồng, tăng bình quân 16,8%/năm (Phụ lục 6).


Công tác quản lý, điều hành ngân sách thực hiện tích cực, chặt chẽ, đúng luật, góp phần quan trọng xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, đầu tư phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo… Tổng thu ngân sách Nhà nước 5 năm là 398.143 triệu đồng, tăng bình quân 24,6%/năm; tổng chi ngân sách là 600.221 triệu đồng, bình quân tăng 22,5%/năm.


Kết cấu hạ tầng đô thị được ưu tiên đầu tư, nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đã đưa vào sử dụng như Sơn Trà - Điện Ngọc, Nguyễn Trung Trực, Hà Thị Thân …; nhiều khu dân cư mới được hình thành với hạ tầng đồng bộ; hầu hết các kiệt hẻm được bê tông hóa và có điện chiếu sáng; xây dựng 17 km mương cống thoát nước; xây dựng, mở rộng và nâng cấp nhiều trường học, trạm y tế, công trình cây xanh, trụ sở hành chính và chợ của các phường, … Diện mạo Sơn Trà thay đổi đáng kể, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện điều kiện sống của nhân dân.


Công tác vận động nhân dân giải tỏa di dời được triển khai thực hiện tốt, trong 5 năm ước khoảng 5.102 hộ đã bàn giao mặt bằng trên tổng số 63 dự án.


Công tác quản lý trật tự đô thị có nhiều chuyển biến. Tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai giảm; công tác quản lý trật tự vỉa hè, lòng đường được quan tâm; ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn minh đô thị có tiến bộ.


2. Chăm lo phát triển văn hoá - xã hội


Giáo dục - đào tạo phát triển cả số lượng, chất lượng. Mở rộng mạng lưới trường lớp, tăng 04 trường so với nhiệm kì trước. Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học từng bước được bổ sung theo hướng “chuẩn hoá”; thêm 6 trường đạt chuẩn quốc gia nâng tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 44%. Duy trì phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS và THCS đúng độ tuổi; 6/7 phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học; hoàn thành mục tiêu không còn người mù chữ trong độ tuổi từ 15-35 tuổi. Chất lượng giáo dục chuyển biến tích cực, tỉ lệ hoàn thành Chương trình giáo dục Tiểu học đạt 99%, tốt nghiệp THCS đạt 97%, THPT đạt 94%. Công tác giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề khá tốt. Hoạt động khuyến học, khuyến tài được chú trọng từ tộc họ, tổ dân phố đến quận, phường.


Văn hoá vùng biển Sơn Trà được bảo tồn và phát huy giá trị, tạo nền tảng tinh thần xã hội. Nhiều công trình văn hoá vật thể được trùng tu, tôn tạo. Nhà thờ Tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu được công nhận Di tích văn hoá cấp quốc gia. Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” từng bước đi vào chiều sâu. Các hoạt động văn nghệ quần chúng và phong trào thể thao được tổ chức khá sôi nổi. Hoạt động truyền thanh từ quận đến phường được củng cố, hoạt động nền nếp, nâng dần hiệu quả công tác tuyên truyền.


Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân được quan tâm. Trung tâm Y tế quận và 100% Trạm y tế phường đạt chuẩn quốc gia; công tác cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh, quản lý hoạt động y tế tư nhân có hiệu quả; y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng góp phần tích cực ngăn ngừa và đẩy lùi các loại dịch bệnh nguy hiểm; bảo hiểm y tế có tiến bộ hơn, thu hút nhiều đối tượng tự nguyện tham gia; các đối tượng chính sách, người nghèo được quan tâm chăm sóc sức khoẻ.


Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đạt nhiều kết quả quan trọng. Tỷ suất sinh giảm 0,35%0/năm. Tỷ lệ sinh 3+ giảm bình quân 1%/năm. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm bình quân 0,3%/năm; tỷ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi giảm 0,5%/ năm.


Các vấn đề xã hội chuyển biến rõ nét, quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc nảy sinh. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách hỗ trợ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công, vận động đóng góp Quỹ đền ơn đáp nghĩa được 1.867,286 triệu đồng. Trong nhiệm kỳ,  đã giải quyết  23.940 lao động có việc làm. Cuối năm 2008, cơ bản hoàn thành chỉ tiêu không còn hộ nghèo (theo chuẩn cũ). Năm 2009 toàn quận có 4.955 hộ nghèo (theo chuẩn mới), chiếm 21,29% tổng số hộ dân; đến nay, số hộ nghèo còn 3.330 hộ (chiếm 14,3%), trong đó có 217 hộ đặc biệt nghèo. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện phát triển, hướng mạnh “vì người nghèo”; hỗ trợ xây dựng 181 nhà tình thương, nhà đại đoàn kết và cải tạo, sửa chữa 84 nhà. Nghị quyết 09-NQ/QU của Quận uỷ là sự cụ thể hoá việc thực hiện Chỉ thị 24-CT/TU và Chỉ thị 25-CT/TU của Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng, bước đầu tập trung giúp đỡ, hỗ trợ hộ đặc biệt nghèo, trẻ em có nguy cơ bỏ học và thanh thiếu niên hư. Tình trạng học sinh bỏ học và bạo lực gia đình có xu hướng giảm.


3. Tăng cường công tác quốc phòng - an ninh


Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự điều hành của chính quyền, sự tham mưu của các lực lượng nòng cốt (Công an - Quân sự - Biên phòng) chủ quyền an ninh biên giới vùng biển được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Hàng năm, Quận ủy lãnh đạo tổ chức diễn tập theo cơ chế Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị đạt kết quả tốt. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân được củng cố. 


Lực lượng vũ trang địa phương thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và khả năng sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu, sức mạnh tổng hợp được nâng lên, đảm bảo hoàn thành mọi nhiệm vụ; phối hợp với các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn thực hiện tốt công tác dân vận, xây dựng thực lực chính trị cơ sở, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh.


Công tác giáo dục kiến thức quốc phòng, tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, quản lý, kiểm tra, huấn luyện quân dự bị động viên, dân quân tự vệ, công tác hậu phương quân đội được thực hiện chu đáo. Hàng năm, giao quân đạt 100% chỉ tiêu, không còn tình trạng đào, bỏ ngũ. Lực lượng dân quân, tự vệ đến năm 2009 đạt tỉ lệ 1,5% so với tổng dân số.


Thực hiện Nghị quyết Trung ương 08 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, các cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác phòng, chống âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng và đồng bộ. Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm được thực hiện gắn với Chương trình “5 không” của thành phố đạt hiệu quả tích cực. Tội phạm ma tuý, mại dâm và tệ nạn xã hội được kiềm chế. Lực lượng bảo vệ chuyên trách, tuần tra đêm hoạt động thường xuyên, đảm bảo sự bình yên cho nhân dân.


Công tác nội chính và cải cách tư pháp đạt được những kết quả nhất định. Quận uỷ chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật phối hợp tốt trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đảm bảo tiến hành đồng bộ và có hiệu quả hơn. Công tác tuyên truyền luật pháp được tăng cường, công tác tiếp dân duy trì có nền nếp, giải quyết kịp thời những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tỷ lệ giải quyết đơn thư thuộc thẩm quyền đạt tỷ lệ 98,6%.


Các Tổ hoà giải ở cơ sở được củng cố, kiện toàn, hoạt động có hiệu quả, góp phần thực hiện tốt an sinh xã hội. Các vấn đề tranh chấp tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đất đai có liên quan đến tôn giáo ... được chỉ đạo giải quyết kịp thời, thoả đáng, không để xảy ra “điểm nóng”.


4. Phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.


Nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở có chuyển biến tốt. Trong thời gian hoạt động, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp đã có nhiều cố gắng nâng cao chất lượng các kỳ họp, phát huy vai trò của cơ quan dân cử trong công tác giám sát, tiếp xúc giải quyết kịp thời những kiến nghị, nguyện vọng của cử tri. Việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường bước đầu sắp xếp bộ máy tinh gọn, phân định chức năng, nhiệm vụ cho từng phòng, ban, ngành; giảm bớt các quy trình, thủ tục hành chính; tạo tính chủ động cho Uỷ ban nhân dân (UBND) trong thực hiện nhiệm vụ; thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể và chủ tịch UBND quận, phường được nâng lên.


Công tác cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” đạt được những kết quả tích cực. Các cấp uỷ Đảng chỉ đạo khá tốt việc triển khai thực hiện Nghị quyết 03-NQ/QU của Quận uỷ “Về năm công tác cán bộ và cải cách thủ tục hành chính”. Công tác chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức được quan tâm chỉ đạo, đạt một số kết quả nhất định. Công tác chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân trong cán bộ, công chức có nhiều tiến bộ. Đề án tin học hóa hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước đang được triển khai thuận lợi. Hoàn thành và công bố áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001: 2000 tại UBND quận.


Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; phát huy vai trò là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng và chính quyền các cấp; làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và đồng thuận xã hội trong thực hiện chủ trương giải toả di dời, an sinh xã hội. Nhiều phong trào và hình thức hoạt động nhằm tập hợp, huy động các tầng lớp nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, tham gia xây dựng kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của gia đình và cộng đồng đạt kết quả tốt.


Các Hội quần chúng, các tổ chức xã hội, tôn giáo có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác từ thiện, nhân đạo, khuyến học, khuyến tài; đẩy mạnh phong trào giúp nhau làm kinh tế gia đình, xoá nhà tạm, giảm nghèo; vận động giúp đỡ ủng hộ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, thanh thiếu niên hư và vi phạm pháp luật, bạo lực gia đình…

 

5. Chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng


Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng thực hiện nghiêm túc bằng nhiều kênh khác nhau, phù hợp với từng đối tượng về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước; tuyên truyền, vận động cùng nhau khắc phục khó khăn, giải quyết kịp thời những vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn.


Nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền đổi mới tạo nên nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tạo được không khí phấn khởi, tin tưởng; kịp thời đấu tranh, ngăn chặn việc tán phát các tài liệu xấu, bác bỏ các quan điểm chính trị phản động, âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Công tác biên soạn lịch sử đảng bộ các cấp, lịch sử truyền thống các ngành được quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt kết quả, đến nay đã hoàn thành in ấn, phát hành Lịch sử Đảng bộ quận, lực lượng vũ trang quận và các phường.


Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có tác dụng tích cực đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quận uỷ triển khai Cuộc vận động “Không có tiêu cực trong thi hành công vụ và bệnh thành tích trong phong trào thi đua yêu nước”, “Giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong cả hệ thống chính trị như giữ gìn con ngươi của mắt mình” nhằm góp phần cụ thể hoá việc thực hiện Chỉ thị 06-CT/BCT của Bộ Chính trị, coi đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp.


Công tác tổ chức cán bộ có chuyển biến tích cực. Thực hiện việc rà soát, bổ sung quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý từ quận đến cơ sở đúng quy định, tăng tỷ lệ nữ trong các cơ quan lãnh đạo, trẻ hoá hầu hết cán bộ chủ chốt cấp phường. Tiến hành luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm 67 lượt cán bộ chủ chốt; phối hợp với các cơ quan hiệp quản bổ nhiệm 38 cán bộ lãnh đạo quản lý; cử 151 cán bộ đi học các lớp lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Việc đánh giá, sử dụng cán bộ tiến hành công khai, dân chủ tập thể hơn.


Công tác xây dựng tổ chức đảng và chất lượng đảng viên được chú trọng. Quận uỷ tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư “về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”. Tập trung củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở (TCCS) đảng yếu kém; xây dựng tổ chức đảng trong trường học, trạm y tế đạt kết quả tốt; tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng thể hiện ngày càng rõ nét.


Công tác quản lý đảng viên, sử dụng cơ sở dữ liệu đảng viên của Đảng bộ được chú trọng. Đảng viên công tác ở các cơ quan được giới thiệu đầy đủ về sinh hoạt với cấp ủy nơi cư trú, góp phần tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên (Phụ lục 10,11).


Công tác phát triển đảng viên được chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Số đảng viên được kết nạp năm sau nhiều hơn năm trước, chất lượng ngày càng tăng về trình độ đào tạo và trẻ hoá. Quận ủy mở 8 lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng cho 1.035 quần chúng ưu tú, 4 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho 447 đảng viên mới. Trong 5 năm, kết nạp 506 đảng viên (Phụ lục 9).


Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng và thực hiện nghiêm túc. Quận uỷ đã tổ chức quán triệt Quy định 57-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 11- HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương cho cấp uỷ cơ sở; xây dựng Quy chế phối hợp giữa các ban Đảng Quận ủy với Công an, Quân sự thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chỉ đạo rà soát, xác minh, làm rõ và kết luận những trường hợp có quan hệ phức tạp về lịch sử chính trị; giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến vấn đề lịch sử chính trị của cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ và công tác phát triển đảng viên.


Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp được tăng cường. Quận uỷ đã xây dựng Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Quận uỷ và chỉ đạo xây dựng Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Quận uỷ với các ban Đảng, Văn phòng cấp uỷ và cấp uỷ các ngành nội chính; tổ chức quán triệt và hướng dẫn xây dựng quy chế thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng tự kiểm tra; tổ chức các đợt kiểm tra và phục vụ tốt các cuộc kiểm tra của Thành uỷ, góp phần quan trọng ngăn ngừa, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.


Công tác dân vận được cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quan tâm thực hiện, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đạt những kết quả quan trọng trong việc vận động nhân dân thực hiện chủ trương chỉnh trang đô thị, chung tay “vì người nghèo”, xây dựng đời sống văn hoá và ổn định chính trị cơ sở.


Phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều đổi mới. Quận uỷ và các cấp uỷ trực thuộc đã sửa đổi, bổ sung Qui chế làm việc của cấp mình phù hợp với quy định, hướng dẫn mới và tổ chức làm việc theo đúng qui chế, chú trọng phân công, phân cấp rõ ràng, chỉ đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể. Phong cách, lề lối làm việc luôn bám sát cơ sở, trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện; đối thoại với quần chúng, với doanh nghiệp, với cán bộ trẻ để tìm giải pháp thực hiện có kết quả chủ trương đã đề ra. Việc ứng dụng tin học vào hoạt động của các cơ quan Đảng có chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác.


6. Nguyên nhân thành tựu


Một là, sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của thành phố về chủ trương, chính sách và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; sự phối hợp, giúp đỡ có hiệu quả của các sở, ban, ngành thành phố và các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị quân đội đóng trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh.


Hai là, Sơn Trà có tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực. Ban Chấp hành Đảng bộ đã có phương thức lãnh đạo đúng đắn, từng bước đánh thức tiềm năng và lợi thế cho sự phát triển của quận.


Ba là, sự năng động, sáng tạo và phối hợp chặt chẽ của cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể từ quận đến phường tạo nên sự đồng tâm hiệp lực vì mục tiêu phát triển chung.


Bốn là, sự đồng tình, hưởng ứng những chủ trương lớn của thành phố, của quận; tinh thần vượt khó của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với mong muốn xây dựng quê hương Sơn Trà ngày một phát triển toàn diện.

 

II. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM


1.
Những hạn chế, khuyết điểm


Kinh tế tăng trưởng còn thấp và chưa vững chắc. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ. Thương mại mới bước đầu đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân địa phương. Du lịch phát triển không tương xứng với tiềm năng. Hoạt động khai thác thủy sản của nhóm tàu thuyền có công suất nhỏ chủ yếu ở tuyến bờ, tác động xấu đến môi trường biển và nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ.
Quản lý đô thị còn nhiều bất cập trong công tác quản lý đất đai, xây dựng cơ bản. Công tác phát triển kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị chưa hoàn chỉnh, nhiều công trình, dự án chậm khớp nối quy hoạch dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ trong khu dân cư; môi trường tại Âu thuyền, Cảng cá Thọ Quang và một số nơi chế biến thuỷ sản bị ô nhiễm, làm ảnh hưởng đến dân sinh. Công tác quản lý trật tự vỉa hè, lòng đường, trật tự bãi biển và trật tự an toàn giao thông thiếu chặt chẽ.


Văn hóa - xã hội chưa được chú trọng đúng mức. Đời sống vật chất, tinh thần và việc làm của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, nhất là các hộ dân thuộc diện giải toả, di dời; số hộ nghèo và đặc biệt nghèo còn nhiều; các thiết chế văn hóa từ quận đến phường còn thiếu; nếp sống văn hóa, văn minh đô thị chưa trở thành ý thức tự giác trong một bộ phận nhân dân. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực văn hóa, thông tin thiếu chặt chẽ. Chưa hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học.


Công tác quốc phòng - an ninh chưa thật sự vững chắc. Tình hình tội phạm hình sự, ma túy, trộm cắp tài sản, cướp giật, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp; vi phạm an toàn giao thông và tai nạn giao thông có xu hướng gia tăng làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của nhân dân.


Công tác xây dựng chính quyền còn nhiều bất cập về năng lực chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp trong một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức; còn để xảy ra tình trạng trì trệ, thiếu trách nhiệm, ngại va chạm, gây phiền hà cho nhân dân.


Công tác mặt trận và các đoàn thể chưa theo kịp yêu cầu. Số lượng đoàn viên, hội viên các đoàn thể đông, nhưng chưa mạnh. Thực lực chính trị có nơi còn mỏng, thiếu bền vững.


Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được chú trọng đúng mức. Các cấp uỷ Đảng thiếu chủ động nắm diễn biến tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên; chậm tập trung giải quyết dứt điểm những việc nổi cộm, bức xúc của địa phương, ngành, đơn vị mình. Một số cán bộ lãnh đạo các cấp thực hiện tự phê bình và phê bình chưa nghiêm, không làm gương cho cán bộ, đảng viên; năng lực chỉ đạo thực hiện chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ then chốt. Một số cán bộ, đảng viên chưa thật sự gương mẫu chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng.
Công tác cán bộ thực hiện chưa nhất quán về quan điểm và nguyên tắc,  chậm khắc phục tình trạng không đồng bộ “vừa thừa vừa thiếu”; không có giải pháp đột phá để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao với trình độ, năng lực của cán bộ có hạn, bằng cấp không tương xứng với thực tài. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thật gắn với công tác quy hoạch, nhận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ. Chưa có chế độ đãi ngộ thích đáng và tạo điều kiện, phương tiện cần thiết cho cán bộ làm công tác Đảng, đoàn thể, nhất là cơ sở.


2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm


Một là, về nhận thức chưa đồng đều, quyết tâm chưa cao, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng chưa quyết liệt, thiếu nhất quán; quản lý, điều hành trên một số lĩnh vực chưa tập trung, thiếu kiên quyết; việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện một số Nghị quyết, chủ trương của cấp trên còn lúng túng.


Hai là, sự yếu kém về phẩm chất, năng lực, ý thức trách nhiệm, tư tưởng bè phái của một bộ phận cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục.


Ba là, ảnh hưởng khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế; thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tục; thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường.

 

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

 

1. Đánh giá chung


Năm năm qua, Đảng bộ và nhân dân Sơn Trà tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, khắc phục khó khăn, hoàn thành cơ bản các mục tiêu và nhiệm vụ do Đại hội III đề ra.


Đảng bộ đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện tốt công tác giải toả di dời, chỉnh trang đô thị. Chú trọng công tác quốc phòng - an ninh, đảm bảo chủ quyền an ninh biên giới  biển được giữ vững. Trên cơ sở khai thác tiềm năng lợi thế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng cao các ngành kinh tế có thế mạnh. Kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển tương đối đồng bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, chính sách an sinh xã hội thực hiện tốt, giúp đỡ có hiệu quả đối với hộ đặc biệt nghèo, hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, trẻ em bỏ học. Chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng lên.


Thành tựu đạt được trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội III tạo tiền đề quan trọng trong việc xây dựng phương hướng phát triển quận Sơn Trà giai đoạn mới; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục nhanh trong thời gian đến.


2. Bài học kinh nghiệm


Một là, chú trọng  công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Không ngừng nêu cao tính đảng, xác định rõ đoàn kết, thống nhất trong Đảng, mà hạt nhân là đoàn kết, thống nhất trong thường trực, thường vụ và ban chấp hành là cơ sở xây dựng sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ. Quan tâm chất lượng công tác tư tưởng chính trị, chất lượng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; ý thức về vai trò gương mẫu của cán bộ chủ chốt và người đứng đầu; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương.
 

Hai là, chấp hành nghiêm sự chỉ đạo cụ thể, sát đúng, kịp thời của Thành uỷ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; khai thác hợp lý tiềm năng, lợi thế của quận; vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách, đầu tư của thành phố trong phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh.


Ba là, phát huy truyền thống cách mạng và tinh thần vượt khó của đảng viên và nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo dựng và củng cố sự đồng thuận xã hội. Tranh thủ sự hỗ trợ của các sở, ban, ngành thành phố và các cơ quan, đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, quan tâm bảo vệ môi trường, giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội.
 

Phần thứ hai


PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
NHIỆM KỲ 2010 - 2015

 

Năm năm tới là giai đoạn đầu Đà Nẵng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2010 - 2020), nhiều dự án lớn được triển khai trên địa bàn phía đông thành phố, là vận hội lớn cho Sơn Trà dần trở thành đô thị hiện đại.


Đảng bộ, quân và dân Sơn Trà có truyền thống cách mạng trung dũng, kiên cường, có sự đồng thuận và nội lực dồi dào; những thành tựu đạt được trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội III… tạo đà cho quận phát triển nhanh trong nhiệm kỳ đến.


Tuy nhiên, là địa bàn biên giới biển, luôn đối mặt với diễn biến bất thường của thiên tai, tiềm ẩn nhiều phức tạp về an ninh chính trị; trình độ dân trí còn hạn chế, nguồn nhân lực chất lượng chưa cao; những vấn đề về an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, trật tự an toàn xã hội và công tác cán bộ vẫn còn nhiều thách thức. 


 Tình hình trên tạo nhiều thuận lợi và không ít khó khăn đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân toàn quận phải đồng lòng, quyết tâm cao, tập trung xây dựng Sơn Trà từng bước phát triển lớn mạnh.

 

I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU


1.
Phương hướng, mục tiêu chung


Tăng cường sự đoàn kết thống nhất, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Khai thác tốt lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên; tranh thủ sự đầu tư của thành phố và trung ương để phát triển kinh tế nhanh và bền vững.


Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị và sức cạnh tranh cao; tập trung phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; chú trọng đầu tư công nghiệp địa phương; nâng cao năng lực khai thác, chế biến thủy sản; chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp”. Gắn  xây dựng kết cấu hạ tầng kĩ thuật đồng bộ với việc xây dựng Sơn Trà thành khu đô thị sinh thái; là một trong những quận trọng điểm của thành phố về phát triển du lịch - dịch vụ, thủy sản.


Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển; tăng cường chăm sóc sức khoẻ nhân dân; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá vùng biển Sơn Trà; xây dựng quốc phòng - an ninh vững mạnh toàn diện; ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội.


2. Một số chỉ tiêu chủ yếu


- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân 12,1%/năm. Trong đó:   dịch vụ tăng 13,9% , công nghiệp tăng 11,4%,  nông nghiệp tăng 4,9%.


- Cơ cấu kinh tế đến năm 2015: dịch vụ chiếm 48,2%, công nghiệp chiếm 46,1%, nông nghiệp chiếm 5,7%.


- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15%/năm. Trong đó, công nghiệp địa phương tăng bình quân 9%/năm.


- Giá trị sản xuất dịch vụ tăng bình quân 28,5%/năm.


- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5%/năm.


- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15,7%/năm.


- Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 12,6%/năm, tổng chi ngân sách địa phương tăng 8,3%/năm.


- Tổng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2011-2015 là 10.804.000 triệu đồng.


- Tạo việc làm mới 26.600 lao động.


- Mức giảm tỷ suất sinh hằng năm 0,3%0/năm.


- Đến năm 2015 không còn hộ nghèo (theo chuẩn mới thành phố).


- Gọi công dân nhập ngũ đảm bảo chất lượng, đạt 100% chỉ tiêu.

 

II. NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN


1.
Tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh; nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành kinh tế


Thực hiện tốt chủ trương, cơ chế, chính sách của thành phố đối với địa phương; phối hợp đồng bộ với các sở, ban, ngành chức năng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức và các thành phần kinh tế đến đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn; khai thác hợp lí tiềm năng, phát huy lợi thế của quận nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng ổn định và bền vững.


Phát triển dịch vụ trở thành ngành kinh tế chủ lực, tập trung khai thác các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Xác định du lịch là ngành mũi nhọn, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển dịch vụ với tốc độ tăng trưởng mạnh; đầu tư phát triển các loại hình kinh doanh du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch ẩm thực, du lịch tâm linh, du lịch lễ hội … gắn với tiềm năng và thế mạnh của quận tại bán đảo Sơn Trà, bãi biển Mỹ Khê, chùa Linh Ứng và lễ hội pháo hoa quốc tế tổ chức hàng năm tại bờ đông sông Hàn; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực du lịch; cải thiện môi trường tự nhiên và môi trường xã hội theo hướng văn minh; lập lại trật tự đô thị và trật tự an toàn xã hội để Sơn Trà thực sự là “điểm đến an toàn” thu hút du khách.


Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đầu tư phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá. Phối hợp với các cơ quan chức năng xúc tiến hoàn thiện các hạng mục xây dựng, quản lý kinh doanh, ổn định trật tự và cải thiện môi trường nhằm khai thác hiệu quả Âu thuyền, Cảng cá và Khu công nghiệp dịch vụ hậu cần thủy sản Thọ Quang trong thu mua, sơ chế, bảo quản sản phẩm; cung ứng vật tư, nhiên liệu, hàng tiêu dùng; duy tu và sửa chữa phương tiện khai thác hải sản. Khôi phục các làng nghề truyền thống như làng cá cơm Thọ An, làng ruốc Mân Thái ... theo hướng áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, tạo ra sản phẩm có giá trị cao, xây dựng thương hiệu riêng của Sơn Trà.


Phát triển hệ thống thương mại, dịch vụ tương ứng với các loại hình kinh doanh du lịch trên địa bàn. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển Hợp tác xã thương mại-dịch vụ. Tăng cường quản lý các hoạt động thương mại đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Thực hiện xã hội hóa đầu tư nâng cấp hệ thống chợ trên địa bàn.


Tiếp tục phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh. Cùng với các ngành chức năng của thành phố, đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương trên cơ sở phát huy lợi thế, tiềm năng; tăng cường các thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại; chú trọng các ngành chế biến thuỷ sản, cơ khí, sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp cảng phục vụ kinh tế biển. Trong đó, công nghiệp chế biến thuỷ sản cần được tập trung để tăng nhanh giá trị của hàng hoá.


Khuyến khích các thành phần kinh tế tiếp tục đầu tư phát triển công nghiệp theo các qui mô khác nhau, thu hút nhiều lao động, đầu tư phát triển công nghiệp vừa và nhỏ cả chiều rộng lẫn chiều sâu; đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất của các cơ sở hiện có để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, đặc biệt là các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Khuyến khích và tạo điều kiện hình thành các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch. 


 Đẩy mạnh phát triển khai thác thủy sản theo hướng nâng cao sản lượng và giá trị hàng hóa, quản lý tốt tài nguyên thiên nhiên. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết 02-NQ/QU của Quận ủy (khóa III) về phát triển kinh tế thủy sản. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nghề phù hợp với đặc điểm ngư trường. Khuyến khích nhân dân đầu tư nâng cấp tàu công suất lớn và mua sắm thiết bị hiện đại để vươn khơi khai thác thủy sản có giá trị cao; hạn chế đánh bắt ven bờ, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái biển. Tạo điều kiện cho ngư dân tiếp nhận các khâu trong dịch vụ hậu cần nghề cá.


Thường xuyên rà soát, bổ sung kế hoạch phòng chống thiên tai, rủi ro, cứu hộ, cứu nạn; duy trì tổ chức sản xuất theo hình thức các tổ, đội hợp tác tương hỗ nhau trên biển. Khuyến khích phát triển nghề sinh vật cảnh, góp phần giải quyết việc làm. Phối hợp quản lý tốt diện tích rừng hiện có, phòng chống khai thác trái phép và cháy rừng, phục vụ có hiệu quả cho phát triển du lịch.


2. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, đi đôi với nâng cao năng lực quản lý đô thị, bảo vệ môi trường


Tranh thủ sự giúp đỡ, đầu tư của Trung ương và thành phố; phối hợp với sở, ban, ngành chức năng xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hợp lý. Hoàn thành việc nâng cấp, cải tạo mạng lưới đường giao thông nội thị, tiến hành trồng cây xanh, thảm cỏ, vườn hoa dọc các tuyến đường sau khi cải tạo và nâng cấp; xây dựng Nhà văn hoá, đầu tư hoàn chỉnh Trung tâm văn hoá - thể thao quận và các thiết chế văn hoá ở cơ sở; đảm bảo 100% kiệt hẻm trong khu dân cư được bê tông hóa, có mương thoát nước và hệ thống điện chiếu sáng công cộng, 100% hộ trong diện giải toả di dời được bố trí đất tái định cư; quan tâm đến nhà ở cho các hộ đặc biệt nghèo; khớp nối quy hoạch, giải quyết cơ bản tình trạng ngập úng trong khu dân cư.


Rà soát nguồn vốn, tập trung đầu tư công trình trọng điểm được thành phố giao; hạn chế đầu tư tràn lan, dàn trải, kém hiệu quả; đẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư; tăng cường công tác giám sát, thanh tra nhằm ngăn chặn tình trạng lãng phí, đảm bảo chất lượng công trình.


Triển khai các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; tích cực, chủ động phòng, chống thiên tai. Kiến nghị với thành phố giải quyết triệt để "điểm nóng" về môi trường tại Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, không để tình trạng ô nhiễm ảnh hưởng đến dân sinh và phát triển kinh tế, nhất là kinh doanh dịch vụ du lịch.


Tăng cường quản lý trật tự đô thị, chấm dứt tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai. Chú trọng triển khai mạnh các biện pháp lập lại trật tự bãi biển, trật tự và mĩ quan đường phố, vỉa hè, lòng đường, an toàn giao thông.


3. Lĩnh vực văn hoá - xã hội 


 Về giáo dục - đào tạo, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo toàn diện, coi trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, giáo dục lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, hiểu biết về Ðảng cho học sinh.


Huy động 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường; giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học; kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhóm trẻ gia đình. Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở đúng độ tuổi; hoàn thành và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục bậc trung học; củng cố kết quả xoá mù chữ, ngăn chặn tình trạng tái mù chữ; thực hiện có hiệu quả chủ trương giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật. Phấn đấu xây dựng mỗi bậc học 01 trường chất lượng cao theo tinh thần Nghị quyết 49/CP của Chính phủ. Thực hiện công bằng trong giáo dục, làm tốt công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT. Thực hiện Đề án xã hội học tập giai đoạn 2011-2020, nâng cao chất lượng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục - đào tạo;  phát triển các loại quỹ khuyến học, khuyến tài trong các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư.


Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Chuẩn hoá trong đào tạo, tuyển chọn, đánh giá, sử dụng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tiếp tục đổi mới phương pháp và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giảng dạy, học tập. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục.
Phấn đấu Sơn Trà được công nhận là quận đạt tiêu chuẩn phổ cập bậc trung học; có 100% số trường mầm non công lập và 88% trường phổ thông đạt tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia. 


 Về khoa học và công nghệ, kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng khoa học và công nghệ quận. Khuyến khích áp dụng khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chủ yếu của địa phương có chất lượng cao. Tăng cường phối hợp với các trường Đại học, Cao đẳng, Viện Nghiên cứu phát triển kinh  tế - xã hội của thành phố để tạo sự hỗ trợ trong ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội quận.


Có biện pháp tập trung hỗ trợ, tài trợ để khuyến khích liên kết, hợp tác giữa  các doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn với các cơ sở nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ trong việc đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới.


Về y tế cải cách mạnh mẽ thủ tục khám, chữa bệnh; bổ sung trang thiết bị y tế, từng bước trang bị, áp dụng công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế. Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế các loại dịch bệnh. Thực hiện nghiêm các chính sách y tế đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người già và các đối tượng chính sách; đẩy nhanh tiến độ thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, từng bước tiến tới bảo hiểm y tế bắt buộc.


Tăng cường hiệu lực, hiệu quả, kỷ cương trong quản lý Nhà nước về y tế; tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý giá thuốc, quản lý hành nghề y dược tư nhân, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh lao động. Nâng cao y đức của cán bộ y tế, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về y tế. Tiếp tục củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở cơ sở. Bổ sung đủ về số lượng, chức danh, bác sĩ, kinh phí hoạt động thường xuyên và chính sách đãi ngộ cho các Trạm y tế.


Về dân số - gia đình và trẻ em, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh, kiên trì mục tiêu gia đình ít con, giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên. Nâng cao chất lượng giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình cho đối tượng vị thành niên và thanh niên. Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình từ quận đến cơ sở theo hướng chuyên sâu và ổn định lâu dài, quan tâm hỗ trợ vật chất và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở cơ sở. Triển khai kế hoạch hành động quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng hạnh phúc. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của gia đình và xã hội về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo điều kiện để trẻ em được sống trong môi trường thân thiện, lành mạnh, an toàn. 


 Về văn hóa, tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vùng biển quận Sơn Trà, phát hiện và nhân rộng những mô hình tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội văn minh, lành mạnh, tiết kiệm. Tăng đầu tư ngân sách cho văn hoá, đồng thời xã hội hoá ở các lĩnh vực phù hợp để huy động các nguồn lực cho phát triển văn hoá trên địa bàn; phấn đấu 70% phường có điểm sinh hoạt văn hoá cộng đồng với đầy đủ các thiết chế văn hóa. Quản lý chặt chẽ các hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí, lễ hội trên địa bàn.


 Đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng công tác truyền thanh từ quận đến phường. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, số người tập luyện thường xuyên đạt 30% tổng số dân. Phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục, thể thao quần chúng, nhất là những môn thế mạnh của quận như bơi lội, lắc thúng, đua thuyền ... qua đó phát hiện những vận động viên xuất sắc đóng góp cho đội tuyển của quận và thành phố. Phấn đấu 90% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, gia đình không có bạo lực.


 Về các vấn đề xã hội, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình thành phố “5 không” và “3 có”; giải quyết tốt vấn đề đời sống, việc làm. Mở rộng các hình thức dạy nghề, hỗ trợ cho vay dạy nghề, học nghề, kết hợp giữa đào tạo với giải quyết việc làm, quan tâm đối tượng bộ đội xuất ngũ, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự.  Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo theo Đề án của thành phố, huy động các nguồn lực xã hội cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động mất việc làm, người dân bị thiên tai, bảo đảm giảm nghèo bền vững, phấn đấu mỗi năm bình quân 1.000 hộ thoát nghèo, đến năm 2015 không còn hộ nghèo (theo chuẩn mới).
 

Thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công; phụng dưỡng chu đáo các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; ưu tiên đối tượng gia đình thương binh-liệt sĩ và người có công về cải thiện điều kiện nhà ở, chăm sóc sức khoẻ, việc học tập của con em.


Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà ở, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân ở các khu công nghiệp; phối hợp với các ngành chức năng của thành phố giải quyết nhu cầu nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp, các gia đình chính sách, các hộ đặc biệt nghèo. Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, bảo đảm vệ sinh, an toàn lao động trong các loại hình doanh nghiệp.


Về vấn đề tôn giáo, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo.


4. Tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh các hoạt động của cơ quan nội chính


 Đổi mới công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nhiệm vụ quốc phòng trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Tiếp tục làm tốt nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân. Làm tốt hơn nữa công tác dân vận, củng cố "thế trận lòng dân", bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Chăm lo công tác đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần, trang bị phương tiện kỹ thuật, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dân quân thường trực ở 07 phường và quân dự bị động viên đúng pháp lệnh. Chỉ đạo chặt chẽ công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm.


Giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Chủ động nắm tình hình, phát hiện ngăn chặn kịp thời hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục thực hiện có kết quả Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, trấn áp và kiềm chế tội phạm hình sự. Đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, tư tưởng; tăng cường công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; chống âm mưu và hành động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch; củng cố phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Duy trì công tác phối hợp giữa lực lượng công an, quân đội và biên phòng trong việc tổ chức quản lý tốt tình hình trên từng địa bàn dân cư; tổ chức đấu tranh kiên quyết với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông đường bộ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.


 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo sự phối hợp của các cơ quan tư pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành án. Củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan điều tra; tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án quận; đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; đổi mới, kiện toàn tổ chức, hoạt động của cơ quan Thi hành án, bổ trợ tư pháp.


5. Tăng cường hiệu lực điều hành, quản lý nhà nước; xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh


Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, đi đôi với nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trực thuộc cho đến từng cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các cơ quan, nhất là cấp hành chính ở cơ sở. Xây dựng quy định về những loại việc chung cần phối hợp, những loại việc thuộc trách nhiệm riêng của cơ quan theo xu hướng giảm bớt những việc kiêm nhiệm. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy định về lề lối, mối quan hệ làm việc trong từng cơ quan, cấp hành chính, gắn liền với yêu cầu chấp hành kỷ luật, kỷ cương công vụ; thực hiện công khai, minh bạch các chế độ, chính sách, các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức, xây dựng văn hóa công sở. Đề cao trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý của những công chức giữ vị trí quản lý, lãnh đạo, người đứng đầu trong các cơ quan, đơn vị, ngành, địa phương.

 

6. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân


Tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đảm bảo chất lượng hiệu quả của các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Ða dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Kiện toàn tổ chức bộ máy đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, xây dựng thực lực chính trị đảm bảo độ tin cậy, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Tạo mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, hội quần chúng và nhân dân.


Các cấp ủy đảng và chính quyền phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội thực hiện tốt chức năng phản biện, giám sát và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.


Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cốt cán của mặt trận, đoàn thể làm công tác dân vận có trình độ, năng lực, nhiệt tình, gương mẫu, có uy tín với nhân dân, có tác phong “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.


7. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên; nâng cao sự thống nhất về nhận thức tư tưởng, chính trị, về ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ, tạo bước chuyển biến mới trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Xây dựng và thực hiện đúng Quy chế Ban chấp hành Đảng bộ, các quy định của Đảng. Phải tập trung sức xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.


Đổi mới phương thức tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết; lấy hiệu quả hành động làm cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết; chú trọng giáo dục rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống lành mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, làm cho toàn Ðảng bộ và nhân dân nhất trí với mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ quận, biến nhận thức thành hành động thực tiễn.


Tiếp tục chỉ đạo và tổ chức thực hiện rộng khắp, có chất lượng và hiệu quả Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến thực sự trong thực hiện Cuộc vận động, mà trọng tâm là "làm theo" tấm gương đạo đức của Bác.


Tạo bước chuyển biến quan trọng về công tác cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; đổi mới triệt để công tác cán bộ theo hướng công khai hóa, dân chủ hóa, thực hiện đúng quy trình, quy định của Đảng trong công tác cán bộ; tạo nguồn dồi dào để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp một cách cơ bản, lâu dài và đào tạo có định hướng đối với cán bộ trẻ tuổi có triển vọng xuất hiện trong hoạt động thực tiễn; tạo môi trường bình đẳng về điều kiện và cơ hội để đông đảo cán bộ rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành. Thực hiện tốt việc đánh giá cán bộ hằng năm theo hướng công khai, minh bạch, khách quan, lấy hiệu quả công việc và phẩm chất, lối sống làm thước đo; phải gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và luân chuyển cán bộ. Mạnh dạn đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực và  có chính sách thu hút nhân tài. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở. Thực hiện việc thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý ở các phòng, ban, ngành và trường học trên địa bàn quận. Quan tâm và tạo điều kiện cho học viên hoàn thành Đề án 89 có môi trường thuận lợi để phát triển; thực hiện tốt tuyển dụng, bố trí sinh viên khá, giỏi vào làm việc cơ quan Đảng, Nhà nước, mặt trận, đoàn thể. 


 Chăm lo công tác xây dựng tổ chức đảng và đảng viên. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị từ quận đến cơ sở, hệ thống chính trị dưới cơ sở theo Thông báo 67-TB/TU của Thành uỷ. Rà soát bổ sung qui chế làm việc của cấp uỷ; tiếp tục cải tiến nội dung sinh hoạt chi bộ theo tinh thần Chỉ thị 10 của Ban Bí thư, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.


Tổ chức đánh giá, phân tích chất lượng từng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm thực chất, công khai. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên; phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy nơi công tác và cấp ủy nơi cư trú trong việc quản lý đảng viên. Hàng năm, phấn đấu xây dựng trên 80% tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém; trên 80% đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, chú ý ở địa bàn chưa có đảng viên, ít đảng viên, trong các trường học, trạm y tế, các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mỗi năm kết nạp trên 100 đảng viên mới.


Tiếp tục thực hiện tốt Quy định số 57-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng. Tập trung xây dựng từng tổ chức cơ sở đảng thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” .


 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên, tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm, kiểm tra, giám sát người đứng đầu các cấp, các ngành về năng lực lãnh đạo, quản lý, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách làm việc, tính tiên phong, gương mẫu để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, lãng phí. Uỷ ban kiểm tra các cấp nâng cao chất lượng tham mưu cho cấp uỷ, thực hiện toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng quy định và các nhiệm vụ do cấp uỷ giao, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vi phạm.


Tăng cường công tác dân vận, triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Củng cố, xây dựng sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt pháp lệnh dân chủ ở cơ sở.


Nâng cao vai trò và trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang về công tác dân vận; xây dựng điển hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực. Cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, tham gia giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, thực hiện chính sách an dân.


Tiếp tục cải tiến phương thức lãnh đạo của Thường trực, Thường vụ và Ban Chấp hành Đảng bộ quận: Hướng mạnh về cơ sở, làm việc khoa học, sâu sát, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, thực hiện chủ trương an dân. Ban Chấp hành và Ban Thường vụ làm việc theo quy chế, phát huy dân chủ nội bộ, xây dựng đoàn kết, thống nhất thực sự, thực hiện chức năng Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, các giải pháp lớn và kiểm tra việc thực hiện; chỉ đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng qui chế làm việc và kiểm tra làm việc theo qui chế.

 

Năm năm của nhiệm kỳ 2010 - 2015, trong bối cảnh chung cả nước và thành phố Đà Nẵng tham gia tiến trình hội nhập quốc tế năng động, hiệu quả, phát triển nhanh và bền vững, quận Sơn Trà có thêm những thời cơ và vận hội mới để đẩy nhanh sự phát triển mọi mặt; đồng thời phải đối diện với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Ban Chấp hành Đảng bộ quận tin tưởng rằng, với sự đồng tâm hợp lực, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân Sơn Trà nhất định nắm bắt thời cơ, khơi dậy và phát huy sức mạnh nội sinh của con người mảnh đất khu Đông - sông Đà, lấy sự đồng thuận xã hội làm sức mạnh, lấy sự đoàn kết thống nhất làm điểm tựa vững chắc để Sơn Trà tiếp tục vững bước tiến lên với mục tiêu “Đoàn kết, sáng tạo, phát huy nội lực, xây dựng quận Sơn Trà văn minh, giàu đẹp” góp phần xứng đáng vào sự phát triển của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới./.
 

         

Tra cứu hồ sơ

Tra cứu hồ sơ

hình ảnh

video

LIÊN KẾT WEBSITE

GTVT.png
SXD.png
STP.png
KCNC.png
BQLKCN.png
STC.png
SNV.png
GDDT.png
YTE.png
TNMT.png