Lễ hội Nghinh ông
A+ | A | A-
Ngày đăng: 09/07/2010
Lễ Nghinh Ông hay lễ cúng cá voi là loại lễ hội nước lớn nhất và phổ biến của ngư dân ven biển. Trong dân gian vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ lưu truyền chuyện kể về nguồn gốc Cá Ông như sau : Xưa kia Đức Phật Quan âm trong lần tuần du Đại Hải, ...

Từ quan niệm cho rằng cá Ông là sinh vật linh thiêng, tuy có thân hình đồ sộ nhưng không bao giờ làm hại người, trái lại đã từng cứu người trên biển khi gặp tai nạn đắm thuyền. Chính vì thế nên khi ngư dân phát hịên Ông bị sóng đánh lớn giạt vào bờ mà còn sống thì tìm cách đưa cá xuống nước, còn nếu gặp cá Ông “lụy” (chết), dân làng biển coi như gặp vận may, và tin rằng sẽ làm ăn phát đạt. Người phát hiện đầu tiên được sẽ là trưởng nam, thay mặt dân làng bịt khăn đỏ chịu tang. Sau 3 ngày làm lễ mở cửa mả, 21 ngày làm lễ cầu siêu, 3 tháng 10 ngày làm Tuần, cũng giỗ hàng năm. Ba năm làm lễ Thượng Ngọc cốt thỉnh vào dinh rồi mới xả tang.

Việc thờ cá Ông được quan niệm như một cảnh đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả. Ông là thần hộ mạng của ngư dân giữa biển khơi đầy sóng gió hiểm nguy. Sự phù hộ của Ông còn giúp ngư dân được mùa đánh bắt, tôm cá đầy khoang, ra khơi vào lộng an toàn.

Trong lễ cúng cá Ông, người ta dùng những bài văn tế ca ngợi sự phù hộ của cá Ông. Chính vì vậy Lễ Nghinh Ông là ngày hội lớn của ngư dân vùng ven biển.

Về thời gian mở hội lễ cá Ông thì không có ngày thống nhất chung, mà mỗi nơi tuỳ thuộc vào ngày có cá Ông “lụy” đầu tiên, hoặc ngày nhận sắc vua phong để tiến hành lễ. Tuy ngày tháng có xê xích nhau, nhưng nói chung đây là thời điểm có biển động, có gió bão nhiều - thời điểm cá Ông lâm nạn, xác trôi giạt vào bờ.

Trước ngày diễn ra lễ hội, ngư dân các làng cá phải tạm ngưng mọi việc, không đi biển, nếu đang đánh bắt trúng cũng phải bỏ về nhà để lo sơn sửa, trang trí thuyền ghe, chuẩn bị các điều kiện tiến hành lễ hội, ghe thuyền các địa phương khác, tỉnh khác đang đánh cá trên biển cũng về tề tựu trước bãi.

Những ngày diễn ra lễ hội Nghinh Ông là những ngày sôi động, rộn ràng, chung quanh Dinh Ông được trang hoàng cờ hoa rực rỡ. Tiếng trống rộn ràng khắp làng cá. Có rất nhiều người từ nhiều vùng khác nhau đổ về đây tham dự, làm cho lễ hội thêm sôi động. Trên mũi thuyền, chủ nhân bày hương án, mâm cúng... Còn trong nhà của cư dân, bàn thờ được lau chùi quét dọn sạch sẽ, bày biện hương án, đèn nhang, hoa quả bánh trái, xôi thịt đầy đủ... Một không khí ngày hội diễn ra từ đầu làng đến cuối xóm, từ góc ra bến, cũng như tàu thuyền, mọi người từ già đến trẻ đều ăn mặc đẹp.

Lễ cúng cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng dưới sự điều khiển của vị Chánh bái. Ở đây còn có sự tham gia của các sư sãi đến tụng kinh, gõ mõ, cầu mong làng xóm yên vui, mọi người khỏe mạnh, nghề nghịêp thuận lợi, làm ăn phát đạt.

Đúng 12 giờ, 3 hồi trống vang lên từ đình và Lăng thờ cá Ông do một vị bô lão trong trang phục áo the, khăn đóng chỉnh tề đánh, đoàn rước xuất phát từ lăng ra bến để lên tàu. Đi đầu là lá cờ đại, theo sau là đội học trò lễ, mặc quần xanh nẹp vàng và áo xanh nẹp đỏ. Tiếp đến là kiệu có bốn người khiêng, trên để bài vị và đồ cúng gồm trái cây, bánh mứt… Đi hai bên là hai người cầm phướn, theo sau kiệu là chánh niệm hương và phó niệm hương, rồi đến đoàn vác chấp kích và lỗ bộ gồm 8 người cùng dàn nhạc ngũ âm 5 người đi sau.

Ra đến bến, cả đoàn rước lần lượt bước lên một chiếc tàu đã được chuẩn bị sẵn. Chiếc tàu dẫn đầu đám rước không nhất thiết phải là tàu lớn, đẹp nhất mà ban khánh tiết đã chọn từ hàng trăm tàu thuyền của vạn chài, theo các tiêu chuẩn sau : gia chủ phải là người có uy tín, đức độ, làm ăn đứng đắn, gia đình hòa thuận và không mắc tang...

Khi tiếng trống vang lên thì 3 chiếc thuyền lớn từ bờ bắc xếp theo hình mũi tên: một chiếc hơi nhô về phía trước, hai chiến còn lại song song áp sát theo sau từ từ tiến ra giữa dòng. Cả ba con thuyền này thuộc vào loại lớn nhất trong vạn chài, nó có kích thước, chủng loại gần giống nhau, chỉ trừ thuyền đi trước to, mũi cao hơn một chút, còn hai thuyền sau đều giống nhau. Cả 3 thuyền này đều được trang hoàng rực rỡ, trên múi của thuyền được thắt một tấm vải đó (biểu tượng cho sự may mắn). Thuyền đi đầu tiên gồm có 9 người, trong đó có 8 tay chèo do 8 thanh niên khỏe mạnh và có kinh nghiệm đi biển. Tất cả đều phải trong trang phục của ngư dân xưa: áo quần nâu. Còn người cuối cùng trên thuyền là một ngư ông cao tuổi - đây là linh hồn của lễ Cầu Ngư. Ông phải là người đi biển nhiều năm, am tường mọi biến thiên về thời tiết của vùng, đồng thời là người có uy tín và có tiếng nói nhất được mọi người nể phục. Ông sẽ là người giữ vai trò chủ tế được cả làng cử ra.

Khi chiếc tàu dẫn đầu nổ máy khởi hành thì tàu thuyền đậu xung quanh cũng lần lượt nối đuôi nhau tiến ra biển. Cả ba con thuyền chầm chậm tiến ra vị trí giữa dòng trong không khí se lạnh của mùa xuân trước sự chứng kiến của hàng chục vạn người. Khi cả 3 thuyền ra mũi thuyền đồng loạt hướng về phía biển Đông theo hướng chỉ tay của vị chủ tế. Đó là lúc phần lễ Cầu Ngư chính thức bắt đầu.

Lúc ấy, ở gần bờ đã có hàng trăm tàu thuyền trang hoàng rực rỡ đang sẵn sàng chờ đợi để cùng “ra quân”. Ra đến biển, tàu chính vượt lên phía trước, còn hàng trăm chiếc tàu khác cũng dàn hàng ngang mà tiến trên mặt biển. Tiếng nổ của hàng trăm động cơ, tiếng hò reo, hoan hô, tiếng trống rập rình của các đội lân đi trên một số tàu tạo nên một âm thanh rộn ràng náo nức.
Đến một điểm đã định sẵn, tàu chính ra tín hiệu giảm tốc độ, một hồi trống vang lên, nhạc nổi lên phần lễ được bắt đầu. Vị chủ tế đứng thẳng, mắt hướng về phía Đông hai tay đan nhau để lên trán đọc lời cầu lễ. Đó là lời cầu nguyện của đại diện cho tất cả ngư dân cầu mong cho một năm gió thuận, mưa hòa, trời yên biển lặng, tôm cá sinh sôi, ngư dân gặp nhiều may mắn. Cứ sau mỗi đoạn tế ngắn thì vị chủ tế quỳ xuống, dập đầu lạy ba lạy, hai vị thuyền trưởng còn lại cũng hành lễ theo trong sự yên lặng theo dõi của mọi người trong bờ. Cứ sau mỗi một đoạn tế ngắn vị chủ tế tiếp tục cầu nguyện, còn hai thuyền trưởng sẽ ném dần lễ vật như hương, áo giấy vàng bạc, gạo, hoa quả, đèn xuống biển. Vị Chánh tế đọc bài văn tế “Nghinh thủy lục” có nội dung đại ý như sau: Nhân dịp tiết xuân, làng tổ chức lễ hội tế ông Đông Hải và kính rước tất cả các thần về Lăng để chứng kiến long thành của dân làng… đọc xong ông tiến hành “xin keo” (đồng tiền sắp ngửa). Nếu việc “xin keo” đạt thì vị chánh tế ra lệnh các tàu quay lại thành một vòng trong với bán kính tương đối rộng. Hiện tượng này theo tập tục xưa được gọi là “lên voi”, đây là dấu hiệu cá Ông đã về, chứng giám lòng thành của ngư dân trong ngày lễ Nghinh Ông. Nếu trường hợp “xin keo” không đạt thì tàu phải tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa và xin lần khác cho đến khi đạt được yêu cầu. Sau đó chủ lễ dâng 1 tuần hương, 3 tuần rượu, 1 tuần trà và khấn vái mời Ông về dự lễ. Trong quá trình đó người ta vẫn thắp nhang tiếp tục cầu mong sự may mắn và như để vơi bớt nỗi oan khuất cho những người trước kia đã nằm lại nơi đây. Phần lễ được tiến hành trong vòng khoảng 30 phút.


Kết thúc phần lễ, vị chủ tế cùng hai thuyền trưởng phía sau dập đầu lạy chín lạy. Đây cũng là lúc mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, trong lòng trở nên phấn chấn và tự tin hơn. Nhưng đến đây không phải ba thuyền đã hoàn thành phần việc của mình, vị chủ tế lại trèo lên nơi có vị trí cao nhất để chỉ huy việc đánh lưới. Cả hai thuyền còn lại cũng vậy và đây là một mẻ lưới được tiến hành có sự phối hợp đồng bộ đẹp mắt giữa 3 con thuyền. Mọi người trên thuyền bỗng trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát hẳn, ai nấy đều thuần thục, điêu luyện trong mọi động tác vốn được thực hiện từ lâu. Khi lưới được vây kín đến gang tay cuối cùng thì cũng là lúc hàng trăm thuyền máy lớn nhỏ đồng loạt khởi động chạy ra tham gia vui hội và “chia phần”. Những con thuyền này cố lượn thật sát mẻ lưới đầu tiên đầy thiêng liêng này và múc nước ở đó đổ vào lòng thuyền mình. Họ cho rằng làm như vậy thì mọi may mắn trong năm sẽ đến với thuyền mình. Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ “chia phần”, các con thuyền này sẽ chạy ra vòng ngoài nhường chỗ cho những con thuyền khác ở vòng ngoài vào “lấy lộc”. Tất cả tạo nên một bầu không khí vui vẻ, ấm áp, giàu tính văn hóa.

Trong khi các con thuyền liên tục vào ra thì ba con thuyền hành lễ ban đầu vẫn miệt mài với công việc của mình. Họ tiến hành thủ tục đánh cá như thật, có màn đánh lưới vui thành “đánh thật”, sau khi đánh xong dù không nhiều nhưng mọi người vẫn hoan hỉ lắm. Vì họ cho rằng đó là điềm báo, là dấu hiệu một năm bội thu hoặc là sự linh ứng nhãn tiền của vật tổ khi mẻ lưới cuối cùng được kéo lên thì cũng là lúc tất cả các con thuyền tham gia lễ hội hướng hết mũi ra biển Đông. Sau khi vượt một quãng họ lại quay mũi hướng thuyền về phía bờ trong tiếng hò reo hoan hỉ của mọi người.

Như vậy, trong lễ hội Cầu Ngư phần “lễ” và phần “hội” đã có sự đan xen, hòa quyện không còn phân biệt ranh giới. Tất cả vừa tạo nên không khí trang nghiêm, thành kính mà ấm áp, vừa thể hiện sự thành tâm của ngư dân vùng sông nước, đồng thời như thể hiện nét đẹp truyền thống văn hóa từ xưa của cha ông ta.

Khi thuyền vào bờ chiêng trống nổi lên rộn ràng, bà con từ các nhà, các ngõ xóm đổ ra bến đông nghẹt để đón tin mừng. Hễ năm nào lễ rước Ông ở ngoài biển chỉ “xin keo” một lần là đạt ngay, thì ngư dân cho rằng năm ấy sẽ được mùa biển, ghe lưới an toàn.

Lễ cúng Tiên sư, tổ nghề cùng các vị Tiền hiền, Hậu hiền được tổ chức sau khi đoàn rước được an vị tại lăng.
Tiếp đến là các tiết mục múa hát cúng Ông, đây là nghi lễ độc đáo của lễ hội cầu ngư do đội bả trạo biểu diễn trước Lăng Ông

Tin liên quan

 
 
 
Lượt truy cập: 284,156 Hôm qua: 1,118 - Hôm nay: 1,264 Tuần trước: 7,344 - Tuần này: 2,382 Tháng trước: 44,293 - Tháng này: 16,555 Đang trực tuyến: 39